• Tập đoàn kinh tế những bật cập và kiến nghị

  • Tập đoàn kinh tế Nhà nước những bất cập, thách thức và hướng sửa đổi, hoàn thiện

  • Sunday, 26 July 2015, 05:54:55 AM
  • 1/ Hoàn thiện quy định về điều kiện thành lập TĐKT nhà nước.

    Trong các điều kiện phải có khi thành lập TĐKT nhà nước thì điều kiện về vốn của tập đoàn có vai trò đặc biệt quan trọng, vì nếu có đầy đủ những điều kiện khác mà thiếu vốn thì trong đa số các trường hợp, doanh nghiệp vẫn không thể thực hiện được các mục tiêu được đặt ra trong kinh doanh. Hiện nay, mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định doanh nghiệp phải có khi thành lập Tổng công ty nhà nước đã trở nên lạc hậu, không tương xứng với mức vốn của đa số TĐKT đang hoạt động trong khu vực và trên thế giới. Nếu chỉ đáp ứng được yêu cầu đó mà đã thành lập TĐKT nhà nước thì trong hoạt động, TĐKT nhà nước sẽ không thể có đủ năng lực cạnh tranh với các tập đoàn của các nước khác trên thế giới. Cần so sánh với vốn của một số TĐKT trên thế giới, để cân nhắc, chỉnh sửa quy định pháp luật về mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập TĐKT nhà nước, bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn hiện nay. Điều đó vừa góp phần tạo ra và bảo đảm năng lực cạnh tranh của các TĐKT nhà nước, vừa hạn chế được tình trạng thành lập tràn lan các TĐKT nhà nước làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành và phát triển các TĐKT nhà nước.

    Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với các TĐKT nhà nước, trong đó đặc biệt quan trọng là cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các tập đoàn. Rà soát pháp luật hiện hành để loại bỏ những quy định mang tính “bao cấp” trong quản lý vốn, như quy định về cấp vốn, ưu tiên tín dụng, cho sử dụng các trái phiếu nhà nước vay từ bên ngoài… đối với các TĐKT nhà nước. Việc tạo ra sự độc lập về tài chính của các TĐKT nhà nước vừa tạo động lực để các tập đoàn vận động, phát triển, vừa bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển.

    Đồng thời, cũng cần khắc phục sự mâu thuẫn giữa quy định trong pháp luật về tên gọi “tập đoàn” và tư cách pháp nhân của TĐKT nhà nước.

    Theo quy định tại khoản 2, Điều 26 Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì “TĐKT không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo qui định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định”. Như vậy, để tránh lạm dụng từ “tập đoàn” khi thành lập các doanh nghiệp, dẫn đến sự “nhập nhằng” không đáng có, nên bổ sung vào Luật Doanh nghiệp năm 2005, sau khoản 1 Điều 32 một nội dung mới (khoản 1a). Khi đó Điều này có nội dung như sau:

    “Điều 32. Những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp

    1. Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký.

    1.a. Sử dụng cụm từ “tập đoàn” để tạo thành một phần tên riêng của doanh nghiệp.

    2. …”.

    Mặt khác, cần nghiên cứu thấu đáo để khẩn trương giảm bớt những lĩnh vực thuộc phạm vi độc quyền của Nhà nước, để trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho các TĐKT thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước phát triển. Khi đã có nhiều TĐKT thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng hoạt động trong một lĩnh vực thì vừa tạo ra động lực nội tại thúc đẩy các TĐKT nhà nước phát triển do có sự cạnh tranh, vừa làm giảm bớt nguy cơ khủng hoảng cho nền kinh tế khi có một TĐKT nhà nước không đáp ứng được vai trò trụ cột do kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí bị phá sản.

    Nhà nước chỉ nên tiếp tục nắm giữ độc quyền trong kinh doanh đối với những lĩnh vực hoạt động trực tiếp liên quan tới an ninh, quốc phòng. Nhờ đó, Nhà nước vừa chủ động trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, vừa có điều kiện để tăng cường các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước. Đối với những lĩnh vực hoạt động khác thì Nhà nước chỉ cần điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp thông qua cơ chế điều chỉnh pháp luật, ngay cả đối với những lĩnh vực được coi là quan trọng, thiết yếu, có tính chủ đạo, then chốt trong nền kinh tế quốc dân thì Nhà nước có thể cũng chỉ cần chi phối hoạt động của doanh nghiệp thông qua hình thức nắm giữ mức vốn hoặc cổ phần chi phối (trên 50% vốn của doanh nghiệp). Có như vậy, mới có thể hình thành được những TĐKT thực sự mạnh, đủ sức giữ vai trò then chốt trong các lĩnh vực và tham gia có hiệu quả vào những quan hệ kinh tế quốc tế với sự tham gia cạnh tranh khốc liệt của các TĐKT hùng mạnh của nước ngoài.

    2/ Hoàn thiện quy định về mô hình tổ chức của TĐKT

    Hiện nay, Điều 146 Luật Doanh nghiệp đã quy định về mô hình tổ chức của TĐKT, coi tập đoàn là một hình thức cụ thể của nhóm công ty. Theo quy định tại khoản 2 Điều này thì “công ty mẹ - công ty con” và “TĐKT” là hai mô hình khác nhau. Quy định này là bất hợp lý bởi những lý do sau đây:

    - Khi xác định “nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác” thì trong mỗi nhóm công ty có thể cùng lúc nhiều mối quan hệ khác nhau, vừa có nhóm công ty mẹ - công ty con, vừa có những công ty liên kết theo các mô hình khác (liên kết qua đầu tư chéo về vốn ở mức không chi phối nhau, liên kết về nhượng quyền thương hiệu, liên kết về chia sẻ thị trường…). Trong khi đó, TĐKT cũng là nhóm công ty nên cũng có thể có nhiều mô hình liên kết này. Nghĩa là, giữa TĐKT và những nhóm công ty khác có thể không có sự khác biệt về mô hình tổ chức, mà có chăng chỉ là sự khác biệt về quy mô về vốn, về số lượng doanh nghiệp thành viên tham gia hoặc về lĩnh vực hoạt động.

    - Quy định này dẫn tới cách hiểu: Khi thành lập các “nhóm công ty” không phải là TĐKT, thì chỉ có thể lựa chọn một trong hai mô hình là liên kết “công ty mẹ - công ty con” và “liên kết theo các mô hình khác”. Đó là quy định cứng nhắc và mâu thuẫn với quy định tại khoản 1 Điều này.

    Bên cạnh đó, sau khi được xác định là một mô hình tổ chức của nhóm công ty, TĐKT lại được quy định riêng ở Điều 149 của Luật Doanh nghiệp: “TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn”.

    Những quy định đó vừa tạo ra cách hiểu không đúng như đã phân tích ở trên, vừa tạo ra sự tản mát trong pháp luật. Vì vậy, cần sửa đổi những bất hợp lý này bằng cách loại bỏ nội dung khoản 2 Điều 146 và Điều 149, đưa nội dung của Điều 149 vào khoản 2 Điều 146. Khi đó Điều 146 được trình bày như sau:

    “Điều 146. Nhóm công ty

    1. Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

    2. TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn.

    Chính phủ quy định về tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT”.

    3/ Hoàn thiện quy định cơ chế quản lý của Nhà nước đối với TĐKT nhà nước

    Theo các quy định hiện nay thì Nhà nước quản lý đối với TĐKT nhà nước bằng nhiều cơ chế khác nhau: Thứ nhất, là cơ chế cơ quan chủ quản; thứ hai, là cơ chế cử người đại diện Nhà nước nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong tập đoàn; thứ ba, là cơ chế quản lý của các cơ quan nhà nước chức năng ở địa phương. Với các cơ chế thứ nhất và thứ hai, cơ quan chủ quản của TĐKT nhà nước vừa là người quản lý, vừa là người đại diện phần vốn nhà nước trong tập đoàn nên đã dẫn đến tình trạng yếu kém như đã phân tích. Do đó, cần quy định cụ thể về thẩm quyền của cơ quan chủ quản (Chính phủ) đối với TĐKT theo hướng chỉ giới hạn trong những việc thẩm quyền quản lý nhà nước của cơ quan hành chính đó (quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ) mà không có quyền can thiệp vào những hoạt động nội bộ của tập đoàn, như: việc kết nạp thêm thành viên mới, quyết định về tổ chức nhân sự, tiến hành hoạt động kinh doanh…

    Hiện nay, để cử người đại diện cho sở hữu chủ nhà nước, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị của tập đoàn. Chủ tịch hội đồng quản trị sẽ thực hiện quyền năng của người đại diện phần vốn nhà nước trong tập đoàn theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và điều lệ của tập đoàn, nhờ đó, Nhà nước quản lý được phần vốn của mình. Tuy nhiên, theo cơ chế bổ nhiệm này, người được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm chỉ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về vấn đề quản lý nguồn vốn nhà nước trong tập đoàn mà không bị chi phối bởi các bộ chức năng. Trong khi đó, các TĐKT nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của các bộ khác nhau, vì vậy các bộ cũng khó có thể tiến kiểm tra hoạt động đại diện của chủ tịch hội đồng quản trị các TĐKT nhà nước. Đó chính là một trong những lý do dẫn đến sự buông lỏng quản lý đối với các TĐKT nhà nước trong thời gian qua ở nước ta. Mặt khác, cơ chế này cũng tạo ra rào cản đối với việc tập trung quản lý vốn nhà nước vào Tập đoàn Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Do đó, đã có ý kiến phát biểu tại Quốc hội là Chính phủ nên rút khỏi việc trực tiếp quản lý TĐKT nhà nước và thành lập một cơ quan để quản lý phần vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay đã có Tập đoàn Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, nên có thể giao quyền quản lý phần vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp cho Tập đoàn này. Như vậy, việc quản lý vốn nhà nước sẽ được tập trung, việc điều phối vốn được thuận tiện và quan trọng hơn cả là đã hình thành cơ chế kinh doanh vốn nhà nước, vừa buộc doanh nghiệp phải có trách nhiệm cao hơn đối với việc quản lý, sử dụng vốn vay (mà không phải vốn cấp như trước đây), chấm dứt được vai trò “bà đỡ” của Nhà nước đối với các TĐKT nhà nước.

    Khi Nhà nước còn là “bà đỡ” thì còn xuất hiện nhiều hiện tượng không phù hợp với cơ chế thị trường, như việc xóa nợ, khoanh nợ, không cho áp dụng Luật Phá sản đối với các TĐKT nhà nước…, vừa tạo ra sự bất bình đẳng trong kinh doanh (điều mà Nhà nước ta hướng tới xoá bỏ), vừa gây tổn thất về kinh tế cho Nhà nước. Việc nhiều TĐKT nhà nước không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, thậm chí có số nợ gấp hơn chục lần số vốn điều lệ mà vẫn được tiếp tục tồn tại đã mang lại những hệ lụy khó lường và khó có thể khắc phục. Hiện nay, đang tồn tại quan điểm cho rằng, nếu để một TĐKT nhà nước phá sản thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, như làm mất việc làm của quá nhiều người lao động, gây dư luận xấu về chính trị, tư tưởng… Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm được hình thành khi xem xét vấn đề từ những khía cạnh khác, cho rằng cần thiết phải để các DNNN nói chung, các TĐKT nhà nước nói riêng phá sản khi chúng đã lâm vào tình trạng phá sản. Việc phá sản một TĐKT nhà nước có hoạt động kinh doanh yếu kém, thua lỗ kéo dài sẽ là lời cảnh báo hữu hiệu nhất đối với các TĐKT nhà nước khác, nhằm tạo động lực nội tại để thúc đẩy chúng phát triển, còn vấn đề việc làm của người lao động của TĐKT nhà nước bị phá sản sẽ được xã hội tự điều chỉnh theo quy luật “cung - cầu”. Vả lại, khi một doanh nghiệp thường xuyên thua lỗ trong kinh doanh thì đời sống của người lao động cũng khó có thể được bảo đảm, thậm chí còn có thể kém hơn khi doanh nghiệp đó phá sản vì người lao động bị hạn chế cơ hội có việc làm ở những doanh nghiệp khác.

    Mặt khác, cũng cần thay đổi quy định về cơ chế Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm tổng giám đốc bằng cơ chế cho các doanh nghiệp thành viên của TĐKT lựa chọn tổng giám đốc của TĐKT nhà nước. Như vậy, chỉ có chủ tịch hội đồng quản trị của tập đoàn là người do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm để đại diện cho phần vốn nhà nước trong TĐKT. Còn tổng giám đốc tập đoàn do hội đồng quản trị bầu ra trong số các thành viên hội đồng quản trị hoặc thuê người khác để điều hành hoạt động của TĐKT nhà nước. Do thành viên của hội đồng quản trị (trừ chủ tịch) được các doanh nghiệp thành viên bầu ra, là người đại diện cho doanh nghiệp trong bộ máy quản lý của tập đoàn, nên có thể coi cơ chế này đã trao cho các doanh nghiệp thành viên quyền lựa chọn tổng giám đốc của mình, nhờ đó sẽ có điều kiện để lựa chọn người phù hợp, có đủ những điều kiện cần thiết để điều hành hoạt động của tập đoàn. Mặt khác, với tư cách không phải là người đại diện phần vốn nhà nước tại tập đoàn, tổng giám đốc không chịu sự ràng buộc về mặt hành chính với cơ quan chủ quản nên độc lập trong hoạt động điều hành hoạt động của tập đoàn. Nhà nước thực hiện quyền của sở hữu chủ thông qua hoạt động của chủ tịch hội đồng quản trị.

    4/ Nghiên cứu đặt ra quy định về TĐKT ngoài Nhà nước

    Mặc dù xác định TĐKT không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh; vấn đề tổ chức tập đoàn do các doanh nghiệp thành viên tự quyết định, nhưng với vai trò dẫn dắt, định hướng cho các doanh nghiệp trong việc thành lập và quản lý các TĐKT ngoài nhà nước, Nhà nước cũng cần ban hành các quy định mẫu nhằm giúp cho các doanh nghiệp tránh được những lúng túng, sai lầm trong quá trình hình thành và phát triển các TĐKT. Có như vậy, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc phát triển các TĐKT mạnh mới sớm được hiện thực hoá.

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DOANH GIA

    Add: Số 43/2 Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội

    Tel: 04.38.717.828;               Mobi: 0904.779997

    www.luatdoanhgia.vn;    Email: luatdoanhgia@gmail.com

    Liên kết: Mở hộ kinh doanh, chuyển nhượng cổ phần

 


  • ---------------------------------------------------------------------------------------

    • Bình luận của bạn

    •   

 

  •  
  • Đối tác pháp lý

  • Luật sư Ngô Thế Thêm tư vấn InfoTV

  •  

     

     

  • CHÍNH PHỦ

    BÁO ĐIỆN TỬ VNMEDIA

    HIỆP HỘI DN NHỎ & VỪA

    LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VN

    BỘ CÔNG AN

    VIỆN KIỂM SÁT NDTC